Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Kevin Warsh đang vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa lập trường chống lạm phát của ông và triển vọng lạc quan hơn đến từ Chủ tịch Fed New York John Williams. Sự khác biệt này trở nên không thể bỏ qua sau bài phát biểu của Warsh tại Jackson Hole ngày 28 tháng Tám.
Warsh, người nắm quyền điều hành Fed vào giữa năm 2026 và tổ chức cuộc họp FOMC đầu tiên vào tháng Sáu, đã duy trì mục tiêu lãi suất liên bang ở mức 3,5% đến 3,75%. Tiếp cận của ông mang tính phụ thuộc mạnh vào dữ liệu, và ông chưa đưa ra các hướng dẫn tương lai mà phố Wall đã quen thuộc trong thập kỷ qua.
Hai tiếng nói từ Fed, hai cách hiểu hoàn toàn khác biệt
Williams đã mô tả lạm phát, đang ở mức khoảng 4%, là “quá cao một cách không thể chối cãi” nhưng đồng thời dự đoán nó sẽ giảm.
Warsh không tin vào điều đó. Trong bài phát biểu trước Quốc hội tháng Bảy, ông nói với các nghị sĩ rằng Fed có “không dung thứ cho lạm phát duy trì ở mức cao”. Tại Jackson Hole, ông còn nhấn mạnh rằng một nửa các mặt hàng trong chỉ số Chi tiêu tiêu dùng cá nhân đang tăng trên 3% hàng năm. Lạm phát PCE lõi lúc bài phát biểu của ông ở mức khoảng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.
Khi chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang nói rằng vẫn còn “nhiều công việc đáng kể” cần làm nếu lạm phát cơ bản không cho thấy xu hướng rõ ràng hướng tới mục tiêu 2%, thị trường đã lắng nghe. Xác suất tăng lãi suất vào tháng Chín đã tăng lên sau những phát biểu của ông tại Jackson Hole.
Warsh cũng nhấn mạnh rằng lãi suất ngắn hạn nên là công cụ chính của Fed, thể hiện sự thận trọng rõ rệt đối với các biện pháp phi truyền thống như mua tài sản quy mô lớn.
Cuộc đấu tranh nội bộ của FOMC
Warsh và Williams không phải là những tiếng nói duy nhất trong phòng. Thống đốc Fed Lisa Cook đã cho biết bà sẵn sàng điều chỉnh lãi suất thêm nữa nếu điều kiện kinh tế yêu cầu, điều này phù hợp hơn với lập trường cứng rắn của Warsh so với cách tiếp cận chờ và xem của Williams.
Tiểu sử của Warsh giải thích một số định hướng chính sách của ông. Trước khi gia nhập Hội đồng Thống đốc Fed năm 2006 (ông phục vụ đến năm 2011), ông từng làm việc tại Morgan Stanley và sau đó trở thành nghiên cứu viên tại Học viện Hoover. Nền tảng trí tuệ của ông ủng hộ chính sách dựa trên quy tắc và các nhiệm vụ rõ ràng hơn là can thiệp tùy ý.

