Chủ tịch Fed Cleveland, Beth Hammack, cho rằng đường ranh giới vô hình phân biệt chính sách tiền tệ thắt chặt với chính sách tiền tệ nới lỏng nằm ở mức cao hơn so với phần lớn đồng nghiệp của bà. Và nếu bà ấy đúng, Cục Dự trữ Liên bang có thể đang chống lạm phát không mạnh mẽ bằng những gì họ nghĩ.
Hammack ước tính tỷ lệ lãi suất trung lập, mức lý thuyết nơi chính sách không kích thích cũng không hạn chế tăng trưởng kinh tế, vào khoảng 1,4% đến 1,5% theo giá trị thực. Điều này đặt bà ở đầu trên của phạm vi mà Ủy ban Thị trường Mở Liên bang đưa ra, nơi dự báo trung vị về tỷ lệ danh nghĩa dài hạn gần đây nằm ở mức khoảng 3% trong Bản tóm tắt Dự báo Kinh tế.
Giải thích về cuộc tranh luận về lãi suất trung tính
Tỷ lệ trung lập, đôi khi được gọi là r-star hoặc r*, là vùng vàng cho lãi suất: không cao đến mức kìm hãm tăng trưởng kinh tế, cũng không thấp đến mức để lạm phát thoát khỏi kiểm soát. Các nhà kinh tế suy luận ra nó từ các yếu tố bao gồm tăng trưởng năng suất, nhân khẩu học và dòng vốn toàn cầu. Các ước tính mô hình như khung Laubach-Williams đã xác định nó vào khoảng 1,4%, trong khi nghiên cứu của Fed Cleveland cho thấy gần với 1,5%. Cả hai đều cho thấy xu hướng tăng lên kể từ giữa năm 2025.
Khi Hammack nói rằng ước tính về tỷ lệ trung lập của cô cao hơn so với các đồng nghiệp, cô đang cho rằng mức lãi suất quỹ liên bang hiện tại khoảng 3,5% đến 3,75% không đang thực hiện nhiều nhiệm vụ chống lạm phát như ủy ban có thể giả định. Theo lời cô trong tháng 12 năm 2025, mức lãi suất hiện hành cảm giác “có lẽ hơi thấp hơn một chút” so với ước tính trung lập của cô.
Từ sự bất đồng đến hành động tiềm năng
Hammack phản đối tại cuộc họp FOMC tháng 7 năm 2026, bỏ phiếu ủng hộ việc tăng lãi suất ngay lập tức để đối phó với lạm phát vẫn duy trì ở mức cao hơn mục tiêu 2% của Fed.
Đến tháng 8 năm 2026, Hammack còn cho biết thêm rằng các mức lãi suất hiện tại không “hạn chế đáng kể” hoạt động kinh tế. Bà cho rằng có thể cần nhiều hơn một lần tăng 25 điểm cơ bản để đưa lạm phát trở lại mục tiêu.
Lý lẽ của cô ấy tuân theo một chuỗi logic đơn giản. Nếu lãi suất trung tính cao hơn các ước tính đồng thuận, thì những gì trông giống như chính sách thắt chặt thực chất lại là trung tính hoặc thậm chí là nới lỏng. Nếu chính sách là nới lỏng trong khi lạm phát vẫn cao hơn 2%, thì Fed không chỉ đang đứng yên. Mà còn có thể đang đi theo hướng sai lầm.
Điều này có nghĩa gì đối với thị trường
Lãi suất cao hơn làm tăng chi phí vay vốn trên toàn bộ nền kinh tế, từ nợ doanh nghiệp đến thế chấp nhà và thẻ tín dụng. Điều này thường gây áp lực lên định giá cổ phiếu vì dòng tiền trong tương lai được chiết khấu ở mức lãi suất cao hơn, khiến giá trị cổ phiếu giảm trong terms giá trị hiện tại. Các cổ phiếu tăng trưởng, vốn có giá trị chủ yếu đến từ lợi nhuận dự kiến nhiều năm về sau, thường cảm nhận áp lực này một cách mạnh mẽ nhất.
Giá trái phiếu di chuyển ngược chiều với lợi suất, do đó bất kỳ sự thắt chặt nào không lường trước đều sẽ gây tổn thất cho các chủ sở hữu nợ có kỳ hạn dài. Thị trường nhà ở có thể đối mặt với thêm nhiều trở ngại, vì lãi suất thế chấp theo sát lợi suất trái phiếu kho bạc, và bất kỳ sự tăng nào trong lãi suất quỹ liên bang đều sẽ lan truyền đến chi phí vay mượn của người mua nhà.
Lãi suất cao hơn của Mỹ so với các nền kinh tế lớn khác có xu hướng củng cố đồng đô la, tạo ra một chuỗi hệ quả riêng: nhập khẩu rẻ hơn, xuất khẩu đắt hơn và áp lực lên những người vay ở thị trường mới nổi đang nắm giữ nợ được định danh bằng đô la.
Nếu tỷ lệ trung tính thực sự cao hơn mức đồng thuận, thì chi tiêu tiêu dùng bền vững và lạm phát dai dẳng không còn là những bí ẩn cần giải thích. Chúng chính xác là những gì bạn sẽ kỳ vọng từ một chính sách tiền tệ không thực sự thắt chặt.

